Doanh nghiệp có được giữ lại trợ cấp thôi việc để trừ vào tiền bồi thường là vướng mắc phổ biến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trong tình trạng còn nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tài sản.
Luật LCP phân tích căn cứ pháp lý, giới hạn cấn trừ và quy trình xử lý an toàn cho doanh nghiệp trong nội dung sau.

1. Điều kiện pháp lý để doanh nghiệp khấu trừ hoặc trừ trợ cấp thôi việc của người lao động
Việc trừ tiền trợ cấp thôi việc không đồng nghĩa với khấu trừ tiền lương, hai chế định này áp dụng nguyên tắc pháp lý khác nhau.
1.1. Nguyên tắc thanh toán tiền lương và các khoản trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động
Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 quy định trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên.
Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên được trả trợ cấp thôi việc khi hợp đồng lao động chấm dứt do hết hạn, hoàn thành công việc hoặc hai bên thỏa thuận chấm dứt, mức trợ cấp mỗi năm làm việc bằng nửa tháng tiền lương.
1.2. Trường hợp doanh nghiệp có quyền trừ tiền trợ cấp thôi việc theo thỏa thuận bằng văn bản với người lao động
Điều 378 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau có thể thỏa thuận bù trừ nghĩa vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Khi doanh nghiệp và người lao động cùng xác nhận giá trị bồi thường thiệt hại bằng văn bản, hai bên có quyền lập thỏa thuận bù trừ khoản trợ cấp thôi việc phải trả với khoản bồi thường thiệt hại phải thu, thỏa thuận phải thể hiện rõ số tiền, phương thức và không được ép buộc người lao động ký kết.
Trường hợp không có thỏa thuận bằng văn bản, doanh nghiệp không được đơn phương giữ lại trợ cấp thôi việc dù đã xác định người lao động gây thiệt hại tài sản.
1.3. Giới hạn tỷ lệ cấn trừ và các khoản đền bù thiệt hại tài sản không thuộc diện tự ý giữ lại
Khoản 1 Điều 102 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản theo Điều 129.
Khoản 3 Điều 102 giới hạn mức khấu trừ hằng tháng không quá 30% tiền lương thực trả sau khi trích nộp bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
2. Hậu quả pháp lý khi doanh nghiệp tự ý giữ lại tiền trợ cấp không đúng quy định
Hành vi tự ý giữ lại trợ cấp thôi việc phát sinh rủi ro hành chính và dân sự cho doanh nghiệp. Mức phạt tiền, nghĩa vụ trả lãi chậm trả và trách nhiệm hoàn trả đầy đủ là ba hệ quả trực tiếp doanh nghiệp phải đối mặt.

2.1. Rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính và nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả cho khoản trợ cấp
Khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương, các khoản trợ cấp cho người lao động theo thỏa thuận và quy định pháp luật.
Khoản 5 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP buộc doanh nghiệp trả đủ khoản tiền còn thiếu cộng với tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 bổ sung, nếu trả chậm từ 15 ngày trở lên, doanh nghiệp đền bù một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn 1 tháng do ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản trả lương công bố tại thời điểm trả lương.
2.2. Trách nhiệm hoàn trả đầy đủ tiền được (trả) cho người lao động khi có tranh chấp lao động
Khi phát sinh tranh chấp về khoản trợ cấp thôi việc bị giữ lại, người lao động có quyền yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết hoặc khởi kiện trực tiếp ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo Điều 187, Điều 188 Bộ luật Lao động 2019. Tranh chấp về trợ cấp thôi việc không bắt buộc qua thủ tục hòa giải trước khi khởi kiện.
>>> Xem thêm: Hiệu lực của điều khoản hạn chế làm việc tại công ty đối thủ
3. Quy trình xử lý cấn trừ nghĩa vụ bồi thường và hoàn trả trợ cấp an toàn cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp thực hiện cấn trừ nghĩa vụ bồi thường vào trợ cấp thôi việc cần tuân theo trình tự chặt chẽ, tránh vi phạm nguyên tắc thanh toán tại Điều 48 và Điều 102 Bộ luật Lao động 2019.

3.1. Lập biên bản xác nhận giá trị bồi thường thiệt hại và văn bản thỏa thuận khấu trừ nghĩa vụ
Doanh nghiệp thực hiện trình tự xử lý bồi thường thiệt hại theo khoản 2 Điều 130 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, bao gồm tường trình bằng văn bản của người lao động, tổ chức cuộc họp xác định trách nhiệm vật chất, ban hành quyết định xử lý bồi thường thiệt hại với giá trị cụ thể.
Sau khi có quyết định xử lý bồi thường thiệt hại đã có hiệu lực, doanh nghiệp và người lao động lập văn bản thỏa thuận bù trừ nghĩa vụ theo Điều 378, Điều 379 Bộ luật Dân sự 2015, nêu rõ số tiền trợ cấp thôi việc, số tiền bồi thường thiệt hại, số tiền còn lại doanh nghiệp phải thanh toán cho người lao động sau khi bù trừ.
3.2. Phương án khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bồi thường độc lập khi người lao động không đồng ý cấn trừ
Trường hợp người lao động không đồng ý ký văn bản thỏa thuận cấn trừ, doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán đầy đủ trợ cấp thôi việc trong thời hạn 14 ngày theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, không được viện dẫn khoản bồi thường thiệt hại chưa thu hồi làm lý do trì hoãn hoặc khấu trừ đơn phương.
4. Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp lao động tại LCP Law Firm
Luật LCP đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc xử lý đồng thời nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc và thu hồi bồi thường thiệt hại, bảo đảm đúng trình tự pháp luật và hạn chế rủi ro tranh chấp. Đội ngũ luật sư của LCP Law Firm thực hiện các công việc sau:
- Rà soát hồ sơ chấm dứt hợp đồng lao động, xác định thời hạn thanh toán trợ cấp thôi việc theo Điều 48, Điều 46 Bộ luật Lao động 2019.
- Tư vấn phân biệt phạm vi khấu trừ tiền lương theo Điều 102 với việc bù trừ trợ cấp thôi việc theo Điều 378 Bộ luật Dân sự 2015.
- Soạn thảo văn bản thỏa thuận bù trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại với trợ cấp thôi việc, bảo đảm giá trị pháp lý ràng buộc cả hai bên.
- Đại diện theo ủy quyền tham gia hòa giải lao động hoặc khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Kết luận
Doanh nghiệp có được giữ lại trợ cấp thôi việc để trừ vào tiền bồi thường chỉ khi có văn bản thỏa thuận rõ ràng với người lao động. Quý khách hàng cần tư vấn cụ thể cho từng vụ việc liên hệ Luật LCP qua Hotline 0962275827 để luật sư tiếp nhận hồ sơ, đánh giá căn cứ pháp lý và đề xuất phương án xử lý phù hợp quy định hiện hành.
