Chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động không hoàn thành công việc

Chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động không hoàn thành công việc là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động 2019. Quyền này chỉ phát sinh khi doanh nghiệp đã ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc và người lao động thường xuyên không đáp ứng tiêu chí đã đặt ra. Nội dung dưới đây trình bày quy định pháp luật hiện hành và những lưu ý dành cho doanh nghiệp khi xử lý.

Chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động không hoàn thành công việc 
Chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động không hoàn thành công việc

1. Quy định về chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động không hoàn thành công việc

Theo điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động, được xác định theo tiêu chí đánh giá do người sử dụng lao động ban hành trong quy chế nội bộ.

Quy chế này phải được ban hành trước khi áp dụng và phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, nếu doanh nghiệp có tổ chức này; nếu không tham khảo, doanh nghiệp có thể bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức phạt với tổ chức gấp đôi theo khoản 1 Điều 6 nghị định này.

Ngay cả khi đủ căn cứ nêu trên, người sử dụng lao động vẫn không được đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu người lao động thuộc trường hợp được bảo vệ tại Điều 37 Bộ luật Lao động 2019, gồm người lao động đang ốm đau, tai nạn điều trị theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền, đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng được đồng ý, hoặc lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Chấm dứt hợp đồng khi chưa có quy chế đánh giá hợp lệ, hoặc khi người lao động thuộc trường hợp được bảo vệ tại Điều 37, sẽ thiếu cơ sở pháp lý và phải chịu các nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2019.

2. Các trường hợp được xem là không hoàn thành công việc

Theo điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, Bộ luật này không liệt kê cụ thể các hành vi được coi là không hoàn thành công việc, mà giao cho doanh nghiệp quy định tiêu chí trong quy chế nội bộ, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động. Trên thực tế áp dụng, các trường hợp thường được ghi nhận bao gồm:

  • Không đạt chỉ tiêu, định mức công việc được giao theo hợp đồng lao động hoặc bản mô tả công việc trong một khoảng thời gian xác định.
  • Vi phạm lặp lại các tiêu chí đánh giá về năng suất, chất lượng hoặc tiến độ đã được quy định trong quy chế đánh giá của doanh nghiệp.
  • Bị nhắc nhở, cảnh báo bằng văn bản về kết quả công việc nhiều lần trong cùng một chu kỳ đánh giá mà không có cải thiện.
  • Không hoàn thành nhiệm vụ được giao theo chu kỳ đánh giá do quy chế nội bộ ấn định, ví dụ theo tháng hoặc theo quý.
Các trường hợp không hoàn thành công việc 
Các trường hợp không hoàn thành công việc

Mức độ và tần suất không hoàn thành công việc cần được ghi nhận bằng văn bản, có căn cứ đối chiếu rõ ràng với tiêu chí tại quy chế đánh giá đã công bố trước đó. Doanh nghiệp lưu giữ đầy đủ hồ sơ đánh giá là điều kiện để chứng minh tính hợp pháp của quyết định chấm dứt hợp đồng khi phát sinh tranh chấp lao động.

3. Những điều cần lưu ý khi chấm dứt hợp đồng lao động

3.1. Thời hạn báo trước

Theo khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với căn cứ không hoàn thành công việc, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

  • Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
  • Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng.
  • Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.

Trường hợp doanh nghiệp vi phạm thời hạn báo trước nêu trên được xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và phải chịu các nghĩa vụ quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2019.

3.2. Nghĩa vụ thông báo và hồ sơ liên quan

Theo khoản 1 Điều 45 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động.

Bộ luật Lao động 2019 không đặt ra nghĩa vụ thông báo với cơ quan quản lý nhà nước về lao động đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng cá nhân theo Điều 36; nghĩa vụ thông báo trước 30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ áp dụng cho trường hợp cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế theo khoản 6 Điều 42 Bộ luật Lao động 2019, kèm theo phương án sử dụng lao động theo Điều 44 của Bộ luật này.

Doanh nghiệp cần lưu văn bản thông báo, quy chế đánh giá và hồ sơ đánh giá kết quả công việc trong hồ sơ nhân sự, làm căn cứ đối chiếu khi có khiếu nại hoặc khởi kiện.

3.3. Nghĩa vụ thanh toán khi chấm dứt hợp đồng lao động

Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, khi chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp theo điểm a khoản 1 Điều 36, người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên không có lý do chính đáng.

Lưu ý: Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm

Theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày trong một số trường hợp đặc thù do Bộ luật này quy định.

4. Dịch vụ Luật sư tư vấn pháp luật lao động dành cho doanh nghiệp

Luật LCP hỗ trợ người sử dụng lao động trong quá trình xây dựng căn cứ, hồ sơ và thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định, bao gồm:

  • Tư vấn xây dựng và rà soát quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc phù hợp với Điều 36 Bộ luật Lao động 2019.
  • Rà soát hồ sơ đánh giá kết quả công việc, biên bản nhắc nhở, cảnh báo để xác định căn cứ chấm dứt hợp đồng hợp pháp.
  • Soạn thảo văn bản thông báo chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định chấm dứt hợp đồng và các tài liệu nội bộ liên quan.
  • Tư vấn thời hạn báo trước, trình tự thủ tục và các khoản thanh toán khi chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Đại diện doanh nghiệp làm việc, thương lượng hoặc tham gia tố tụng khi phát sinh tranh chấp lao động với người lao động.
Dịch vụ Luật sư tư vấn pháp luật lao động dành cho doanh nghiệp
Dịch vụ Luật sư tư vấn pháp luật lao động dành cho doanh nghiệp

>>> Xem thêm: Dịch vụ luật sư tham gia hòa giải tranh chấp lao động

Kết luận

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động chỉ an toàn khi công ty xác định đúng căn cứ, đúng thời điểm, báo trước đúng thời hạn và thanh toán quyền lợi cho người lao động đầy đủ.

Quý khách hàng là doanh nghiệp có nhu cầu tư vấn về chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động không hoàn thành công việc, vui lòng liên hệ Luật LCP qua Hotline: 0962275827 để được hỗ trợ rà soát căn cứ pháp lý và xây dựng hồ sơ chấm dứt hợp đồng đúng quy định, hạn chế rủi ro tranh chấp và trách nhiệm bồi thường phát sinh sau này.

Tác giả

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang