Di sản chuyển thành tài sản chung xảy ra khi các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế trong thời gian quy định và thừa nhận di sản chưa được chia. Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định cụ thể các điều kiện để di sản chuyển thành tài sản chung. Khi di sản đã chuyển thành tài sản chung, Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng quy định về chia tài sản chung. Bài viết phân tích chi tiết các điều kiện và hậu quả pháp lý của việc di sản chuyển thành tài sản chung.

1. Hệ quả của di sản hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật
Căn cứ theo khoản 1 Điều 623, Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định phương án giải quyết di sản khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản, cụ thể: di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó; trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu; Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản, không có người chiếm hữu.
2.Hết thời hiệu khởi kiện thì tòa án có thụ lý vụ án hay không ?
Theo khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc
Theo Công văn 1083/VKSTC-V9 năm 2024 giải đáp vướng mắc trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình có nội dung như sau: Khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế mà không có bên nào yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung, cho dù Toà án biết rõ thời hiệu khởi kiện đã hết. Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS mà Tòa án xét thấy thời hiệu khởi kiện đã hết thì đình chỉ việc giải quyết vụ án.
>>> XEM THÊM: Thời hiệu khởi kiện trong trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1996

3.Quy định của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán về di sản chuyển thành tài sản chung
Di sản chuyển thành tài sản chung là chế định pháp lý đặc biệt trong lĩnh vực thừa kế. Quy định này xuất hiện từ Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc xác định di sản đã chuyển thành tài sản chung ảnh hưởng trực tiếp đến thời hiệu khởi kiện và phương thức giải quyết tranh chấp.
Theo điểm a Tiểu mục 2.4 Phần I của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, di sản chuyển thành tài sản chung khi đáp ứng các điều kiện pháp lý cụ thể.
- Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc
- Sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế.
Như vậy, trong thời hạn mười năm kể từ ngày kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế
4.Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản
Án lệ số 26/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tình huống án lệ
Người để lại di sản thừa kế là bất động sản chết trước ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Tại thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 đang có hiệu lực pháp luật.
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 06/2017/DS-GĐT ngày 27-3-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung” ở Hà Nội giữa nguyên đơn là ông Cấn Xuân V, bà Cấn Thị N1, bà Cấn Thị T1, bà Cấn Thị H, ông Cấn Xuân T, bà Cấn Thị N2, bà Cấn Thị M1. Người đại diện cho các đồng nguyên đơn là bà Cấn Thị N2 và bị đơn là cụ Nguyễn Thị L, ông Cấn Anh C. Người đại diện cho các đồng bị đơn theo ủy quyền là ông Lê Hồng L. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 07 người.
Giải pháp pháp lý
Trường hợp này, phải xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.
Nội dung án lệ
“[5] Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017), thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
[6] Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự này có hiệu lực, thì thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.
[7] Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 01-01-2017. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật.”
5. Xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế
Để xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế cần nắm vững quy định về thời hiệu khởi kiện tại Điều 184 BLTTDS, Điều 149 và Điều 623 BLDS 2015, Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Án lệ số 26/2018/AL của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao và tham khảo mục 1, 2 Phần III Giải đáp vướng mắc số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 và Phần I Giải đáp vướng mắc số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của TAND Tối cao. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
5. 1. Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990
Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được tính từ ngày 10/9/1990.
5.2. Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 01/01/2017
Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 01/01/2017 (ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực), thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản được tính từ thời điểm mở thừa kế.
5.2.1. Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế
Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Nghị quyết số 58/1998). Theo đó thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 (ngày Nghị quyết số 58/1998 có hiệu lực), không tính vào thời hiệu khởi kiện (khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58/1998).
5.2.2. Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế
Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Nghị quyết số 1037/2006). Theo đó, thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 (ngày Nghị quyết số 1037/2006 có hiệu lực) không tính vào thời hiệu khởi kiện (khoản 2 Điều 39 Nghị quyết số 1037/2006).
6. Luật sư thừa kế tại miền Nam
Các dịch vụ pháp lý mà luật sư thừa kế tại Miền Nam thực hiện cho Quý khách hàng bao gồm:
- Phân tích hồ sơ và xác định tính chất pháp lý của tài sản là di sản thừa kế hay tài sản chung theo quy định tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP
- Đánh giá các điều kiện để di sản chuyển thành tài sản chung và tư vấn về hậu quả pháp lý của việc chuyển đổi này
- Tính toán thời hiệu khởi kiện cụ thể dựa trên thời điểm mở thừa kế, loại tài sản, thành phần người thừa kế và các quy định pháp luật liên quan
- Chuẩn bị đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế hoặc chia tài sản chung
- Đại diện Quý khách hàng tại Tòa án nhân dân các cấp trong quá trình giải quyết tranh chấp
- Tư vấn về phương án giải quyết tranh chấp thông qua thỏa thuận, hòa giải để tiết kiệm thời gian và chi phí
- Soạn thảo các văn bản xác nhận đồng thừa kế, thỏa thuận chia di sản
- Thu thập chứng cứ chứng minh quyền thừa kế, xác định di sản thừa kế, chứng minh các điều kiện để di sản chuyển thành tài sản chung
- Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu bất động sản sau khi chia di sản hoặc chia tài sản chung
- Đại diện Quý khách hàng trong các thủ tục kháng cáo, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu không đồng ý với bản án của Tòa án
Kết luận

Di sản chuyển thành tài sản chung là chế định pháp lý quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi người thừa kế khi hết thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế. Quý khách hàng cần xác định chính xác các điều kiện theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP để áp dụng quy định này. Việc phân biệt giữa di sản thừa kế và tài sản chung ảnh hưởng trực tiếp đến thời hiệu và phương thức giải quyết tranh chấp. Luật LCP cung cấp dịch vụ tư vấn và đại diện pháp lý chuyên nghiệp cho các vụ việc thừa kế tại Miền Nam. Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn vui lòng liên hệ Hotline: 0962275827 để được hỗ trợ kịp thời.
Tác giả
-
Luật sư Võ Tấn Lộc là thành viên Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh và Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương mại Phía Nam (STAC), hiện là Luật sư điều hành của Công ty Luật TNHH LCP, địa chỉ Phòng 1206-05, Tầng 12, Tòa nhà Citilight Tower, 45 Võ Thị Sáu, phường Đa Kao, TP. Hồ Chí Minh.
Với kiến thức pháp lý vững vàng, kỹ năng tranh tụng sắc bén và sự tận tâm trong từng vụ việc, luật sư Võ Tấn Lộc luôn là điểm tựa pháp lý vững chắc cho các cá nhân, doanh nghiệp trong mọi tình huống tranh chấp
