Bồi thường khi công ty chấm dứt HĐLĐ trái luật được quy định cụ thể tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động. Việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải bồi thường theo nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào ý muốn của các bên và tình huống cụ thể. Người sử dụng lao động vi phạm quy định chấm dứt hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường và phải nhận người lao động quay lại làm việc. Bài viết phân tích chi tiết các trường hợp xác định vi phạm và mức bồi thường cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành.

1. Trường hợp xác định công ty chấm dứt HĐLĐ trái luật
Chấm dứt hợp đồng lao động không có căn cứ pháp lý hợp lệ theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 được xác định là vi phạm trái luật. Theo Điều 39 Bộ luật Lao động 2019 thì người sử dụng lao động thực hiện chấm dứt HĐLĐ mà không tuân thủ các điều kiện, thủ tục được quy định tại các Điều 36 và Điều 37 của Bộ luật Lao động sẽ bị coi là vi phạm pháp luật. Trường hợp này bao gồm cả việc sa thải người lao động trong thời gian nghỉ ốm đau, nghỉ thai sản hoặc các kỳ nghỉ được pháp luật bảo vệ.
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà không thông báo trước theo đúng thời hạn quy định hoặc không có lý do chính đáng cũng được xác định là vi phạm pháp luật.
Ngoài ra, trong trường chấm dứt Hợp đồng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế theo Điều 42 BLLĐ 2019 mà không tuân thủ đúng quy trình thủ tục thì cũng được xác định là đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật
Việc xác định chấm dứt HĐLĐ trái luật còn dựa vào việc người sử dụng lao động có tuân thủ đúng thủ tục, trình tự chấm dứt hợp đồng hay không. Bồi thường khi công ty chấm dứt HĐLĐ trái luật sẽ được tính toán dựa trên mức độ vi phạm và thiệt hại thực tế mà người lao động phải gánh chịu.
2. Các khoản bồi thường khi công ty chấm dứt HĐLĐ trái luật
Theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm bồi thường khi chấm dứt HĐLĐ trái luật theo ba tình huống khác nhau. Mức bồi thường được xác định dựa trên ý muốn của người lao động về việc tiếp tục quan hệ lao động. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi tối đa cho người lao động bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của công ty.
2.1. Trường hợp người lao động muốn trở lại làm việc
Khi người lao động muốn tiếp tục làm việc sau khi bị chấm dứt HĐLĐ trái luật, công ty phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc. Khoản bồi thường này được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng trái pháp luật đến ngày người lao động được nhận lại vào làm việc, đảm bảo người lao động không bị thiệt hại về thu nhập. Việc đóng các loại bảo hiểm trong thời gian này giúp duy trì quyền lợi bảo hiểm xã hội của người lao động.
Ngoài ra, công ty còn phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ như một hình thức bồi thường tinh thần và thiệt hại khác. Mức bồi thường nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ này có thể được thỏa thuận cao hơn tùy vào mức độ vi phạm và thiệt hại thực tế.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Lao động 2019 thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2.2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc
Khi người lao động quyết định không trở lại làm việc sau khi bị chấm dứt HĐLĐ trái luật, công ty vẫn phải thực hiện các khoản bồi thường như trường hợp thứ nhất. Điều này bao gồm trả lương và bảo hiểm trong thời gian không làm việc, bồi thường ít nhất 02 tháng lương và hoàn trả các khoản đã chi trả. Bên cạnh đó, công ty còn phải trả khoản trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019.
Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
2.3. Trường hợp công ty không muốn nhận lại người lao động
Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại Trường hợp thứ 1 và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động. Khoản bồi thường bổ sung này nhằm đền bù cho việc người lao động mất đi cơ hội được tiếp tục làm việc tại công ty.
Tổng mức bồi thường trong trường hợp này sẽ cao nhất trong ba tình huống được quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2019. Công ty phải chi trả lương và bảo hiểm thời gian nghỉ việc, bồi thường ít nhất 02 tháng lương, trợ cấp thôi việc và thêm ít nhất 02 tháng lương nữa. Mức bồi thường thêm có thể được thỏa thuận cao hơn mức tối thiểu tùy vào khả năng tài chính của công ty và mức độ thiệt hại của người lao động.
3. Thủ tục và hồ sơ khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng trái luật
Trong quan hệ hợp đồng, nguyên tắc tôn trọng cam kết và thực hiện đúng nghĩa vụ luôn là nền tảng để bảo đảm quyền lợi cho các bên. Tuy nhiên, thực tế không ít trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có căn cứ pháp luật hoặc trái với thỏa thuận đã ký, gây thiệt hại về tài chính, uy tín hoặc cơ hội kinh doanh cho bên còn lại.
Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, người bị thiệt hại hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường. Việc nắm rõ thủ tục và hồ sơ khởi kiện không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi một cách hiệu quả mà còn tránh được rủi ro pháp lý, tiết kiệm thời gian và chi phí trong quá trình tố tụng.
Thủ tục và hồ sơ khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng trái luật được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

3.1. Hồ sơ khởi kiện
Người lao động bị chấm dứt HĐLĐ trái luật có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân để yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Hồ sơ khởi kiện được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, bao gồm:
3.1.1.Đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện được lập theo mẫu số 23 – DS ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP. Trong đó nêu rõ yêu cầu cụ thể về việc xác định hành vi chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và mức bồi thường thiệt hại. Đơn khởi kiện phải có đầy đủ thông tin về nguyên đơn, bị đơn, nội dung tranh chấp và căn cứ pháp lý để Tòa án thụ lý giải quyết, cụ thể các nội dung chính trong đơn khởi kiện phải đảm bảo theo Khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
3.1.2.Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện
Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bản sao y hoặc bản chính hợp đồng lao động hoặc văn bản chứng minh quan hệ lao động giữa người lao động và công ty là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ khởi kiện.
- Biên bản họp kỷ luật, quyết định sa thải hoặc các văn bản liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng lao động cũng cần được đính kèm.
- Các chứng cứ về vi phạm thủ tục chấm dứt hợp đồng như không thông báo trước, không tổ chức họp với công đoàn sẽ hỗ trợ cho việc chứng minh hành vi trái pháp luật.
- Bảng lương, bảng chấm công và các tài liệu chứng minh thu nhập của người lao động trong thời gian làm việc tại công ty giúp xác định mức bồi thường chính xác.
- Giấy tờ y tế, giấy nghỉ thai sản hoặc các văn bản chứng minh người lao động thuộc đối tượng được pháp luật bảo vệ đặc biệt cần thiết trong một số trường hợp.
3.2. Quy trình giải quyết của Tòa án
Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các vụ án tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo thủ tục tố tụng dân sự.
Phiên tòa xét xử vụ án sẽ được tiến hành công khai trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về việc xét xử kín. Tại phiên tòa, các bên sẽ trình bày quan điểm, xuất trình chứng cứ và Hội đồng xét xử sẽ làm rõ các tình tiết của vụ án. Tòa án có thể tiến hành hòa giải trong quá trình xét xử để các bên tự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại một cách tự nguyện.
Bản án của Tòa án sẽ xác định rõ việc chấm dứt hợp đồng lao động có trái pháp luật hay không và mức bồi thường cụ thể mà công ty phải chi trả. Bồi thường khi công ty chấm dứt HĐLĐ trái luật được xác định trong bản án sẽ có hiệu lực thi hành và công ty bắt buộc phải thực hiện theo đúng nội dung quyết định.
Cụ thể quy trình nộp và giải quyết hồ sơ khởi kiện tranh chấp lao động do công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cơ bản bao gồm các bước sau:
3.2.1.Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
- Nộp trực tiếp tại Tòa án;
- Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
- Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
3.2.2.Bước 2: Giai đoạn tiếp nhận và xử lý hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ khởi kiện, tòa án sẽ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ trong thời hạn 08 ngày. Cụ thể theo quy định của khoản 2 và khoản 3 Điều 191 BLTTDS 2015 có quy định như sau
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
- Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
3.2.3.Bước 3: Thụ lý đơn khởi kiện
Theo quy định tại Điều 195 BLTTDS 2015, Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
3.2.4.Bước 4: Giai đoạn chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử diễn ra trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, trường hợp vụ án có tình tiết phức tạp thì có thể gia hạn thêm 02 tháng. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử như: triệu tập các bên tham gia tố tụng, thu thập tài liệu chứng cứ, tiến hành hòa giải, giao nộp tiếp cận và công khai chứng cứ trước khi đưa vụ án ra xét xử. Chi tiết thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015
3.2.5.Bước 5: Mở phiên tòa sơ thẩm
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng
Tại phiên tòa, các bên sẽ trình bày quan điểm, xuất trình chứng cứ và tranh luận về vụ án. Sau khi xem xét toàn bộ vụ án, tòa án sẽ ra bản án quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên. Bản án có hiệu lực pháp lý sau khi hết thời hạn kháng cáo hoặc kháng nghị.
4. Dịch vụ tư vấn mức bồi thường khi công ty chấm dứt hợp đồng trái luật
Luật LCP cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên sâu về mức bồi thường khi công ty chấm dứt hợp đồng trái luật với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực lao động.
- Phân tích hành vi chấm dứt hợp đồng lao động của công ty có trái pháp luật hay không
- Tính toán chính xác mức bồi thường theo từng trường hợp cụ thể
- Thu thập, rà soát và chuẩn bị hồ sơ tài liệu chứng cứ phục vụ đòi bồi thường
- Tư vấn lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp
- Đại diện khách hàng đàm phán với công ty về mức bồi thường
- Soạn thảo văn bản yêu cầu bồi thường và thỏa thuận bồi thường
- Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và đại diện khách hàng tại Tòa án
- Theo dõi quá trình xét xử và bảo vệ quyền lợi khách hàng tại phiên tòa
- Tư vấn về thủ tục thi hành án sau khi có bản án
- Tư vấn về quyền kháng cáo nếu không đồng ý với kết quả xét xử

Bồi thường khi công ty chấm dứt HĐLĐ trái luật được pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động và răn đe hành vi vi phạm của doanh nghiệp. Luật LCP với kinh nghiệm chuyên sâu về lao động sẽ hỗ trợ Quý khách hàng xác định chính xác mức bồi thường và đòi quyền lợi một cách hiệu quả nhất. Liên hệ Hotline: 0962275827 để được tư vấn miễn phí và nhận hỗ trợ pháp lý chuyên nghiệp ngay hôm nay.
Tác giả
-
Luật sư Võ Tấn Lộc là thành viên Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh và Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương mại Phía Nam (STAC), hiện là Luật sư điều hành của Công ty Luật TNHH LCP, địa chỉ Phòng 1206-05, Tầng 12, Tòa nhà Citilight Tower, 45 Võ Thị Sáu, phường Đa Kao, TP. Hồ Chí Minh.
Với kiến thức pháp lý vững vàng, kỹ năng tranh tụng sắc bén và sự tận tâm trong từng vụ việc, luật sư Võ Tấn Lộc luôn là điểm tựa pháp lý vững chắc cho các cá nhân, doanh nghiệp trong mọi tình huống tranh chấp
