Những điểm mới trong Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự

Những điểm mới trong Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 tạo ra sự thay đổi về cách áp dụng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/11/2025, thay thế các hướng dẫn trước đây về lượng hình trong xét xử vụ án hình sự. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn toàn diện về nội hàm, điều kiện áp dụng từng tình tiết theo Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bài viết phân tích chi tiết các điểm mới để Quý khách hàng và luật sư bào chữa nắm vững quy định pháp luật.

Những điểm mới trong Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
Những điểm mới trong Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Hướng dẫn toàn diện, cụ thể hơn về tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP đánh dấu bước tiến trong việc hướng dẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải thích chi tiết toàn bộ các tình tiết từ điểm a đến điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc hướng dẫn cụ thể giúp Tòa án và luật sư bào chữa áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử.

Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 22 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, từ điểm a đến điểm x. Trước đây, các tình tiết này chỉ được liệt kê mà chưa có hướng dẫn chi tiết về nội hàm và điều kiện áp dụng, hoặc nếu có thì các văn bản chỉ hướng dẫn một số tình tiết.

Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP lần đầu tiên hướng dẫn toàn diện từng tình tiết. Mỗi tình tiết đều được giải thích rõ nội hàm, điều kiện áp dụng và ví dụ minh họa cụ thể, giúp việc áp dụng được thống nhất.

Các tình tiết giảm nhẹ được phân tích kỹ lưỡng để tránh sự hiểu sai hoặc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án.

1.1. Nhiều tình tiết được làm rõ khái niệm, phạm vi áp dụng như:

  • Ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
  • Phạm tội do bị kích động về tinh thần;
  • Phạm tội trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình gây ra;
  • Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
  • Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;…

1.2. Nghị quyết bổ sung nhiều hướng dẫn mới, lần đầu tiên quy định rõ:

  • Cách xác định người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng;
  • Người có bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi;
  • Người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con liệt sĩ được coi là có tình tiết giảm nhẹ đặc thù.

2. Liệt kê cụ thể về các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Bên cạnh đó, 10 tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) cũng được liệt kê cụ thể tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP. Theo đó khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) chỉ quy định Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Các tình tiết này phản ánh chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.

2.1. Tình tiết sau đây có thể coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

  • Người phạm tội đầu thú là trường hợp sau khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện, người phạm tội tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.
  • Người phạm tội tự nguyện nộp lại ít nhất một phần hai số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội hoặc tiền phạt bổ sung theo bản án, quyết định của Tòa án.
  • Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu, chống dịch.
  • Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế được cấp có thẩm quyền xác nhận, nhưng vì lý do khách quan chưa kê khai đề nghị nên chưa có Huân chương, Huy chương.
  • Người phạm tội có mẹ hoặc bà được Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; có cha, mẹ, ông, bà được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Người phạm tội có cha, mẹ được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen về những thành tích xuất sắc trong công tác.
  • Người bị hại hoặc người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại hoặc gây thiệt hại về tài sản.
  • Người bị hại cũng có lỗi hoặc thiệt hại do lỗi của người thứ ba.
  • Người phạm tội có từ 03 con nhỏ trở lên đều dưới 15 tuổi hoặc có con bị khuyết tật nặng trở lên, bị bệnh hiểm nghèo mà vợ, chồng không có công ăn việc làm, gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận.

2.2. Lưu ý

Tòa án có thể coi tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác cần phải được xem xét thận trọng, chặt chẽ, tùy vào tính chất, đặc điểm của từng trường hợp cụ thể.

3. Làm rõ và mở rộng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP có hướng dẫn cụ thể hơn về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mỗi tình tiết tăng nặng đều được định nghĩa, phân tích và minh họa bằng ví dụ cụ thể. Việc hướng dẫn chi tiết giúp các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 15 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1, từ điểm a đến điểm p. Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn toàn diện nội hàm từng tình tiết với các tiêu chí xác định rõ ràng ,mỗi tình tiết tăng nặng đều được định nghĩa, phân tích và minh họa bằng ví dụ cụ thể, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cách hiểu thống nhất.

Quy định cụ thể về cách áp dụng tổng hợp các tình tiết
Quy định cụ thể về cách áp dụng tổng hợp các tình tiết

Một số điểm mới đáng chú ý gồm:

3.1. Xác định rõ “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”

“Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập.

3.2. Giải thích chi tiết về “phạm tội có tính chất côn đồ”,

Phạm tội có tính chất côn đồ”, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội có thái độ coi thường pháp luật, thường xuyên gây rối an ninh trật tự, sẵn sàng dùng vũ lực, có hành vi hung hãn coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác một cách vô cớ hoặc do bộc phát hoặc vì lý do nhỏ nhặt sẵn sàng dùng vũ lực hoặc thường xuyên thực hiện hành vi uy hiếp người khác phải khuất phục mình

3.3. Hướng dẫn, giải thích rõ tình tiết “lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc khó khăn đặc biệt của xã hội để phạm tội”

Tình tiết “lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc khó khăn đặc biệt của xã hội để phạm tội” quy định tại điểm l khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp (như: bạo loạn vũ trang, tình trạng di cư ồ ạt, khủng hoảng lương thực…), thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội (như: động đất, sóng thần, bão lũ, hạn hán, hỏa hoạn, đại dịch…) để thực hiện hành vi phạm tội mà không đòi hỏi lúc phạm tội đang có chiến tranh, đang trong tình trạng khẩn cấp, đang có thiên tai, dịch bệnh hoặc đang có khó khăn đặc biệt khác.

3.4. Làm rõ các tình tiết khác

Làm rõ các tình tiết “dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội”, “dùng phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người”, “có hành động hung hãn, xảo quyệt nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm”.

3.5. Lưu ý

Đặc biệt, Nghị quyết cũng hướng dẫn xử lý trường hợp Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng

4. Quy định cụ thể về cách áp dụng tổng hợp các tình tiết

Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP cũng quy định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp:

4.1. Trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt

Trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4.2. Trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong đó có tình tiết vừa là tình tiết định khung, vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong đó có tình tiết vừa là tình tiết định khung, vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì áp dụng như sau:

4.2.1  Trường hợp tình tiết định khung đồng thời là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trường hợp tình tiết định khung đồng thời là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự mà không cùng một khoản định khung của điều luật thì áp dụng tình tiết định khung cao nhất và các tình tiết còn lại không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2.2  Trường hợp tình tiết định khung đồng thời là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trường hợp tình tiết định khung đồng thời là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự mà trong cùng một khoản định khung của điều luật thì chỉ áp dụng 01 tình tiết định khung và các tình tiết còn lại không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2.3  Trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết định khung hình phạt

Trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết định khung hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, số lượng tình tiết định khung, số lượng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

4.3. Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích

Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”, “tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và “có tính chất chuyên nghiệp”.

4.4. Trường hợp khi bị bắt, người phạm tội không chỉ khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội đã bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện mà họ còn tự thú khai báo hành vi phạm tội của họ trước đó,

Trường hợp khi bị bắt, người phạm tội không chỉ khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội đã bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện mà họ còn tự thú khai báo hành vi phạm tội của họ trước đó, chưa bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện thì cần áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo” và “người phạm tội tự thú”.

4.5. Trường hợp người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm 02 tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trường hợp người phạm tội trước đó đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm 02 tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì phải áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với cả 02 tội. Nếu điều luật quy định “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt, thì áp dụng là tình tiết định khung hình phạt, nếu điều luật không quy định “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt, thì áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

5. Dịch vụ luật sư bào chữa

Các dịch vụ pháp lý mà luật sư bào chữa thực hiện cho Quý khách hàng bao gồm:

  • Phân tích hồ sơ vụ án và xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
  • Thu thập chứng cứ chứng minh các tình tiết giảm nhẹ
  • Đánh giá các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đưa ra và đề xuất ý kiến phản bác nếu không có căn cứ
  • Tư vấn cho Quý khách hàng về các hành vi cần thực hiện để tạo thêm tình tiết giảm nhẹ như khắc phục hậu quả, nộp lại tài sản, bồi thường thiệt hại
  • Soạn thảo văn bản đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ gửi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án với căn cứ pháp lý cụ thể
  • Tham gia bào chữa tại các phiên tòa và trình bày ý kiến về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình, lượng khung
  • Phân tích và chỉ ra các tình tiết định khung không được tính lại là tình tiết tăng nặng để tránh áp dụng một tình tiết vừa định khung vừa định tội
  • Đề nghị Tòa án áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung khi đáp ứng điều kiện
  • Chuẩn bị hồ sơ kháng cáo nếu Tòa án sơ thẩm không xác định đúng hoặc không áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có lợi cho bị cáo
  • Nghiên cứu án lệ và các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm liên quan đến việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để đưa ra lập luận có căn cứ

Kết luận

Dịch vụ luật sư bào chữa
Dịch vụ luật sư bào chữa

Những điểm mới trong Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP tạo ra hệ thống hướng dẫn toàn diện về áp dụng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/11/2025, giúp Tòa án và luật sư bào chữa áp dụng thống nhất các quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quý khách hàng cần nắm rõ các điều kiện để áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung. Luật LCP cung cấp dịch vụ bào chữa chuyên nghiệp với kiến thức cập nhật về Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP. Quý khách hàng cần tư vấn pháp lý vui lòng liên hệ Hotline: 0962275827 để được hỗ trợ.

Tác giả

  • Luật sư Võ Tấn Lộc

    Luật sư Võ Tấn Lộc là thành viên Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh và Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương mại Phía Nam (STAC), hiện là Luật sư điều hành của Công ty Luật TNHH LCP, địa chỉ Phòng 1206-05, Tầng 12, Tòa nhà Citilight Tower, 45 Võ Thị Sáu, phường Đa Kao, TP. Hồ Chí Minh.

    Với kiến thức pháp lý vững vàng, kỹ năng tranh tụng sắc bén và sự tận tâm trong từng vụ việc, luật sư Võ Tấn Lộc luôn là điểm tựa pháp lý vững chắc cho các cá nhân, doanh nghiệp trong mọi tình huống tranh chấp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang