Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm quyền sở hữu phổ biến và có tính chất phức tạp trong thực tiễn tố tụng hình sự. Hành vi phạm tội thường được thực hiện thông qua các thủ đoạn gian dối, tinh vi nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, gây thiệt hại nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội. Bài viết dưới đây phân tích khái niệm, dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt của tội danh này theo quy định pháp luật hình sự hiện hành.

1. Các yếu tố nào cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự?
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội độc lập thuộc một trong những tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017, 2025. Các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự như sau:
Chủ thể
Chủ thể của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 thì chỉ có thể là cá nhân. Cá nhân phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ đuổi luật định và đã thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.
Điều 12, Bộ luật Hình sự quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này
Vì vậy, tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì chủ thể của tội này không phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà chỉ có người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Về năng lực trách nhiệm hình sự: Người phạm tội phải có năng lực trách nhiệm hình sự.
Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Thủ đoạn gian đối của người phạm tội là những hành vi nhằm tạo ra thông tin sai lệch, không đúng sự thật để đánh lừa người khác.
Lưu ý: Hành vi lừa dối trong cân đo đong đếm là gian lận số lượng, khối lượng, kích thước hàng hóa/dịch vụ khi mua bán, sử dụng thủ đoạn như cân non, tính gian, đánh tráo sản phẩm kém chất lượng, nhằm thu lợi bất chính, cấu thành Tội Lừa dối khách hàng (Điều 198 BLHS 2015) không phải lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hành vi chiếm đoạt tài sản có thể là chiếm đoạt tiền, vàng, kim loại quý, vật dụng có giá trị,…
Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là tội phạm có cấu thành vật chất, tức là cấu thành tội phạm có dấu hiệu, hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm hoàn thành là khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản.
Mặt chủ quan
Mặt chủ quan tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp.
Người phạm tội nhận thức rõ về tính chất nguy hiểm của hành vi mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người khác, nhận thức rõ rằng dữ liệu mà mình cung cấp là hoàn toàn không trung thực, có nguy cơ nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hành vi của mình nhằm mục đích gây thiệt hại cho tài sản của người khác, đồng thời xâm phạm quyền hợp pháp của chủ sở hữu tài sản. Người phạm tội biết rõ mối đe dọa cho xã hội của hành vi của mình bên cạnh kết quả do hành vi đó gây ra, nhưng người phạm tội vẫn muốn hậu quả đó xảy ra nhằm mục đích chiếm hữu tài sản của người khác.
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là gian dối và biết rằng thông tin mình cung cấp là sai lệch, không đúng sự thật. Người phạm tội cũng nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật.
Mặt khách thể
Theo luật hình sự Việt Nam, những tội được coi là tội xâm phạm sở hữu và cùng được quy định trong chương XVI Bộ luật Hình sự năm 2015 là những tội có cùng khách thể loại là quan hệ sở hữu. Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nằm trong chương các tội xâm phạm sở hữu, do vậy mặt khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hành vi xâm phạm trực tiếp vào quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Đối tượng tác động của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là tài sản, mà theo khoản 1, Điều 105, Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản bao gồm: “Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Tuy nhiên, đối tượng của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” có thể thuộc bất kỳ hình thức sở hữu nào nhưng phải được pháp luật thừa nhận và thể hiện dưới dạng vật chất, do đó những gì không thuộc về vật chất thì không thể là đối tượng của tội của hành vi chiếm đoạt.
2. Hình phạt của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự
Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 BLHS, được xác định dựa trên hành vi khách quan là cố ý thực hiện các hành vi như lừa đối, dùng thủ đoạn tinh vi xảo quyệt nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Khung hình phạt cơ bản của tội này dao động từ 06 tháng đến 03 năm tù, nhưng có thể tăng lên đến chung thân nếu thuộc các tình tiết định khung như Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên hoặc Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp để phạm tội. Ngoài ra người nào phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung.

Khung 1
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169,170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ
Khung 2
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
Khung 3
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Khung 4
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Hình phạt bổ sung
Theo khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 thì Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
3. Mức xử phạt hành chính về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác
Liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự thì sẽ bị xử lý hình sự.
Trường hợp chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người nào Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP
Đối với tổ chức thì mức phạt tiền sẽ gấp đôi theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
Bên cạnh đó cũng sẽ áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi trên.
4. Dịch vụ luật sư bào chữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Tư vấn phân biệt rõ hành vi vi phạm hành chính và tội phạm hình sự về lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa trên giá trị tài sản, tình tiết định khung
- Gặp gỡ, trao đổi với thân chủ để nắm rõ diễn biến vụ việc, thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan từ giai đoạn điều tra
- Đề xuất phương án bào chữa phù hợp với từng giai đoạn dựa trên chứng cứ, quy định pháp luật
- Tham gia các buổi lấy lời khai, đối chất, nhận dạng để bảo vệ quyền lợi thân chủ, ngăn chặn việc lấy lời khai trái pháp luật
- Đề nghị cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập chứng cứ
- Xác định và đề xuất các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Phân tích tính hợp pháp của các chứng cứ, giám định, đề nghị loại bỏ chứng cứ thu thập trái pháp luật hoặc không đủ căn cứ
- Tư vấn cho thân chủ về thời hiệu xử phạt hành chính, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, điều kiện miễn trách nhiệm hình sự
- Tranh luận tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt phù hợp cho thân chủ
- Soạn thảo đơn kháng cáo, kháng nghị bản án nếu thân chủ không đồng ý
- Tư vấn về điều kiện xóa án tích, giảm thời gian chấp hành hình phạt tù, thủ tục đề nghị đặc xá, ân xá
Kết luận

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội. Việc nhận diện đúng dấu hiệu pháp lý, xác định chính xác hành vi vi phạm và áp dụng đúng khung hình phạt có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, việc tham vấn luật sư sớm sẽ giúp hạn chế rủi ro pháp lý và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của đương sự. Vui lòng liên hệ số Hotline 0962275827 để được LCP tư vấn kịp thời
Tác giả
-
Luật sư Võ Tấn Lộc là thành viên Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh và Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương mại Phía Nam (STAC), hiện là Luật sư điều hành của Công ty Luật TNHH LCP, địa chỉ Phòng 1206-05, Tầng 12, Tòa nhà Citilight Tower, 45 Võ Thị Sáu, phường Đa Kao, TP. Hồ Chí Minh.
Với kiến thức pháp lý vững vàng, kỹ năng tranh tụng sắc bén và sự tận tâm trong từng vụ việc, luật sư Võ Tấn Lộc luôn là điểm tựa pháp lý vững chắc cho các cá nhân, doanh nghiệp trong mọi tình huống tranh chấp
