Tội cố ý gây thương tích đi tù mấy năm

Tội cố ý gây thương tích đi tù mấy năm là câu hỏi Quý khách hàng cần nắm rõ khi liên quan đến các vụ việc hình sự. Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, mức phạt tù dao động từ 06 tháng đến tù chung thân, phụ thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể và các tình tiết định khung. Việc xử phạt hành chính áp dụng cho trường hợp người có hành vi cố ý gây thương tích mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bài viết phân tích chi tiết các khung hình phạt, tình tiết tăng nặng và quyền lợi của người bị tố cáo theo quy định pháp luật hiện hành

Tội cố ý gây thương tích đi tù mấy năm
Tội cố ý gây thương tích đi tù mấy năm

1.Cấu thành của Tội cố ý gây thương tích 

Tội cố ý gây thương tích có các dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội phạm như sau:

Về chủ thể:

Theo quy định của Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 quy định:

  • Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 134, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 (Sau đây gọi tắt là “BLHS”).

Đối chiếu sang quy định tại điểm c và điểm d, khoản 1, Điều 9 Bộ luật Hình sự thì

  • Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
  • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Về khách thể:

Khách thể của tội này là quyền được tôn trọng, bảo vệ về sức khỏe con người.

Về mặt khách quan

Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội này được quy định là hành vi gây thương tích hoặc hành vi gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, thể hiện sự nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Hậu quả của tội phạm

Hậu quả của hành vi chính là thương tích ở mức độ có tỉ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên hoặc dưới tỷ lệ đó nhưng thuộc 1 trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS

Tại Khoản 14 Mục I Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TANDTC trong đó có giải đáp vướng mắc về quy định tại khoản 6 Điều 134 BLHS 2015 như sau:

“…Quy định này không bắt buộc người phạm tội phải hoàn thành hành vi khách quan là gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác và cũng không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra. Người có hành vi chuẩn bị một trong các loại công cụ, phương tiện phạm tội như: Vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì đã đủ dấu hiệu về mặt hành vi khách quan để xử lý hình sự người phạm tội.

Do đó, đối với trường hợp nêu trên thì các đối tượng mặc dù chưa thực hiện hành vi gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng đã có sự bàn bạc thống nhất, câu kết chặt chẽ với nhau và đã hoàn thành việc chuẩn bị các loại hung khí nguy hiểm nhằm mục đích tấn công gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Do đó, các đối tượng này có đủ dấu hiệu về mặt hành vi khách quan theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.”.

Về mặt chủ quan

Yếu tố chủ quan của tội này yêu cầu người phạm tội phải có ý thức rõ ràng về hành vi và hậu quả của mình, thể hiện qua ý định trực tiếp hoặc gián tiếp gây thương tích.

Ngược lại, so với Điều 130 BLHS quy định về tội “Cố ý gây thương tích” hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.  Mặc dù Hành vi khách quan của tội này cũng là việc gây thương tích tương tự như Điều 134 BLHS, nhưng điểm đặc thù nằm ở yếu tố chủ quan: người phạm tội thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân.

Vấn đề trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Bộ luật hình sự đã được hướng dẫn lần đầu tiên tại Điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

Có thể hiểu, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội là do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân của người phạm tội gây ra.

2.  Mức phạt hành chính hành vi cố ý gây thương tích

Căn cứ khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, người có hành vi cố ý gây thương tích mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị xử phạt hành chính từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng

Mức phạt nêu trên được áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức có cùng hành vi này thì mức phạt tiền là gấp 2 lần mức trên, tức là từ 10.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 144/2021/NĐ-CP

Mức phạt hành chính hành vi cố ý gây thương tích
Mức phạt hành chính hành vi cố ý gây thương tích

3.  Hình phạt của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tội “Cố ý gây thương tích” hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, theo Điều 134 BLHS, được xác định dựa trên hành vi khách quan là cố ý thực hiện các hành động gây tổn thương cơ thể, cùng với hậu quả là tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên (hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt).

Yếu tố chủ quan của tội này yêu cầu người phạm tội phải có ý thức rõ ràng về hành vi và hậu quả của mình, thể hiện qua ý định trực tiếp hoặc gián tiếp gây thương tích. Khung hình phạt cơ bản của tội này dao động từ 06 tháng đến 03 năm tù, nhưng có thể tăng lên đến chung thân nếu thuộc các tình tiết tăng nặng như gây chết người hoặc phạm tội có tổ chức.

Khung 1

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  • Có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  • Có tính chất côn đồ;
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Khung 2

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Khung 3

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Khung 4

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

  • Làm chết người;
  • Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Khung 5

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

  • Làm chết 02 người trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Chuẩn bị phạm tội

Theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

4. Luật sư bào chữa tội cố ý gây thương tích

  • Gặp gỡ, trao đổi với thân chủ để nắm rõ sự việc, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án từ giai đoạn điều tra
  • Nghiên cứu hồ sơ vụ án, phân tích tính chất hành vi, xác định cấu thành tội phạm, tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân
  • Đề xuất phương án bào chữa phù hợp, dựa trên chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ
  • Tham gia các buổi lấy lời khai, đối chất
  • Đề nghị cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập chứng cứ chứng minh thân chủ vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
  • Xác định và đề xuất các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
  • Phân tích tính hợp pháp của các chứng cứ, kết luận giám định
  • Tranh luận tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho thân chủ
  • Soạn thảo đơn kháng cáo, kháng nghị bản án nếu thân chủ không đồng ý với quyết định của Tòa án
  • Tư vấn cho thân chủ về quyền và nghĩa vụ trong quá trình tố tụng hình sự, thủ tục kháng cáo, xin giảm án
  • Hỗ trợ gia đình thân chủ trong việc làm các thủ tục pháp lý, thăm nuôi, gửi tiền, quần áo cho người bị tạm giam, tạm giữ
  • Theo dõi quá trình chấp hành án, tư vấn về điều kiện giảm thời gian chấp hành hình phạt tù, xóa án tích

Kết luận

Luật sư bào chữa tội cố ý gây thương tích
Luật sư bào chữa tội cố ý gây thương tích

Tội cố ý gây thương tích là tội phạm nghiêm trọng xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể con người với khung hình phạt từ 06 tháng tù đến tù chung thân theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Quý khách hàng cần hiểu rõ quy định pháp luật về cấu thành tội phạm, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, thủ tục tố tụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Luật LCP với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm sẵn sàng tư vấn, bào chữa cho Quý khách hàng trong các vụ án hình sự, đảm bảo quyền được bào chữa và nhận được bản án công bằng. Quý khách hàng có thể liên hệ Hotline: 0962275827 để được tư vấn chi tiết về quyền lợi và nghĩa vụ trong vụ án cố ý gây thương tích.

Tác giả

  • Luật sư Võ Tấn Lộc

    Luật sư Võ Tấn Lộc là thành viên Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh và Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương mại Phía Nam (STAC), hiện là Luật sư điều hành của Công ty Luật TNHH LCP, địa chỉ Phòng 1206-05, Tầng 12, Tòa nhà Citilight Tower, 45 Võ Thị Sáu, phường Đa Kao, TP. Hồ Chí Minh.

    Với kiến thức pháp lý vững vàng, kỹ năng tranh tụng sắc bén và sự tận tâm trong từng vụ việc, luật sư Võ Tấn Lộc luôn là điểm tựa pháp lý vững chắc cho các cá nhân, doanh nghiệp trong mọi tình huống tranh chấp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang